Chùa Cầu còn có tên gọi là Cầu Nhật Bản và Lai Viễn Kiều, tương truyền do người Nhật xây vào đầu thế kỷ XVII và đã qua ít nhất 6 lần trùng tu vào các năm 1653, 1763, 1817, 1865, 1915, 1917.
Được xây dựng vào năm 1840 dưới triều Nguyễn, nhà thờ bao gồm các phần nhà ở sinh hoạt, nhà thờ tộc và cổng. Khu nhà ở được che bởi bức vách bằng tre phục vụ cho mục đích sinh hoạt.
Theo các tài liệu còn lại được biết đình Đại Càn được xây dựng vào thế kỷ 18 để thờ các vị thần Đại Càn Quốc gia Nam Hải tứ vị thánh nương, Nam Hải cự tộc Ngọc Lân tôn thần...
Miếu bà Mụ được xây dựng vào cuối thế kỷ 19 trên vị trí cao này của hòn gieo nhìn ra biển, nơi trước đây tấp nập tàu thuyền qua lại. Di tích liên quan đến tín ngưỡng phồn thực, đến sự sinh sôi phát triển, thể hiện qua việc thờ bà mụ cùng những vị nữ thần bổ trợ bà mẹ, trẻ em, bổ trợ việc sinh nở ...
Mộ cổ ở Hội An khá phong phú về chủ nhân, niên đại và số lượng, được phân bổ gần và bao giờ cũng quay mặt vẳ phía dòng chảy thường là không xa nơi người chểt cư trú lúc sinh thời. Qua khảo sát, có thể thấy rằng khoảng đầu thế kỷ 19 đã bắt đầu xuất hiện các hình thức khu mộ (nghĩa địa ) của các tộc, họ cùng các kbu mộ chung gọi là "Nghĩa trũng" thuộc sự quản lý của các cộng đồng làng xóm nhằm quy tập các ngôi mộ vô chủ. Tương tự như vậy, cộng đồng người Hoa có khu mộ " Thanh Minh", hoặc khu mộ của các bang (Triều Châu, Phúc Kiến...).
Giếng Chămpa được phân bố trong quần thể khu phố cổ theo một hệ thống khá liên hoàn, dọc bờ Bắc và Nam của sông Thu Bồn, bên bờ các dòng chảy cổ và đảo cù lao Chàm.Hầu hết giếng đều có kết cấu bằng đá hoặc gạch hình "vành khăn"...
Vị trí bảo tàng Văn hóa Dân gian Hội An nằm tại số 33 Nguyễn Thái Học. Bảo tàng được triển khai tại 33 - Nguyễn Thái Học, là ngôi nhà cổ lớn nhất trong Đô thị cổ có chiều dài 57 mét, chiều ngang 9 mét, hai tầng sàn bằng gỗ thông 2 mặt phố Nguyễn Thái Học và Bạch Đằng
Vị trí nhà Diệp Đồng Nguyên nằm tại số 80 Nguyễn Thái Học.Ngôi nhà này được xây dựng vào cuối TK 19 . Tổ tiên của chủ nhà này là một thương nhân người Hoa.